Site icon Blogluat.com

Ly hôn năm 2024, chia tài sản thế nào là hợp lý?

ly hôn

Tòa án chia tài sản chung khi giải quyết vụ án ly hôn nếu đương sự không thể tự thỏa thuận và vợ hay chồng hoặc cả hai yêu cầu tòa án phân chia tài sản đúng luật định.

Nếu hai vợ chồng tự thỏa thuận thành công thì tài sản chung sẽ được phân chia như kết quả thỏa thuận.

Tòa án phân chia tài sản khi ly hôn

Theo Điều 59 thuộc Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 cùng Khoản 1 thuộc Điều 7, Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP (Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình), vợ chồng khi ly hôn có quyền tự thỏa thuận với nhau về toàn bộ các vấn đề, trong đó có việc phân chia tài sản.

Trường hợp vợ chồng không thể tự thỏa thuận mà có yêu cầu thì tòa án phải xem xét, quyết định việc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận hay theo luật định, tùy từng trường hợp cụ thể mà tòa án xử lý như sau:

– Trường hợp không có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng hoặc văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn;

– Trường hợp có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng và văn bản này không bị tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì áp dụng các nội dung của văn bản thỏa thuận để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Đối với những vấn đề không được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng hoặc bị vô hiệu thì áp dụng các quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4, 5 thuộc Điều 59 và các Điều 60, 61, 62, 63 và 64, Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

Ngoài ra, pháp luật áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây để xác định tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia:

– Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng:

+ Là tình trạng về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản theo quy định tại Luật Hôn nhân và Gia đình.

+ Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng.

– Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập:

+ Là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung.

+ Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn.

– Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập:

+ Là việc chia tài sản chung của vợ chồng phải bảo đảm cho vợ, chồng đang hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề; cho vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiếp tục được sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch.

+ Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự.

– Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng:

+ Là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn.

Ví dụ: Tình huống người chồng có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy hoặc phá tán tài sản thì khi giải quyết ly hôn, tòa án phải xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên.

Hiệu lực của kết quả chia tài sản chung khi ly hôn

Theo Điều 39, Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân sẽ áp dụng như sau:

– Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng là thời điểm do vợ chồng thỏa thuận và được ghi trong văn bản; nếu trong văn bản không xác định thời điểm có hiệu lực thì thời điểm có hiệu lực được tính từ ngày lập văn bản.

– Trong trường hợp tài sản được chia mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực từ thời điểm việc thỏa thuận tuân thủ hình thức mà pháp luật quy định.

– Trong trường hợp tòa án chia tài sản chung của vợ chồng thì việc chia tài sản chung có hiệu lực kể từ ngày bản án, quyết định từ tòa án có hiệu lực pháp luật.

– Quyền, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm việc chia tài sản chung có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Chia tài sản chung bằng hiện vật hoặc giá trị khi ly hôn

Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị theo Khoản 3, Điều 59, Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.

Cụ thể, bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

Cách chia tài sản riêng khi ly hôn

Khoản 4 thuộc Điều 59, Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, nêu rõ tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung đúng quy định trong Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.

Nếu xảy ra trường hợp tài sản riêng và chung sáp nhập, trộn lẫn với nhau mà vợ, chồng có yêu cầu chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó; trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

Trong đó, Điều 43 thuộc Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, liệt kê tài sản riêng của vợ, chồng gồm: tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng quy định ở Điều 38, 39 và 40 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà pháp luật quy định thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

Tương tự, tài sản hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1, Điều 33 và khoản 1, Điều 40, Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.

Những tài sản không thể chia khi ly hôn

Tài sản thuộc một trong các trường hợp dưới đây không được phân chia khi vợ chồng ly hôn:

– Tài sản vợ chồng thỏa thuận không chia khi giải quyết ly hôn thì tòa án không giải quyết chia.

– Tài sản riêng của vợ, chồng thì thuộc quyền sở hữu riêng của người đó, không phải chia. Trong đó, tài sản riêng của vợ, chồng, gồm:

+ Tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn;

+ Tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân;

+ Tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo Điều 38, 39 và 40 thuộc Luật Hôn nhân và Gia đình;

+ Tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng;

+ Tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

+ Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng.

Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1, Điều 33 và khoản 1, Điều 40, Luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành.

Bạn đọc có thể tham khảo thêm nhiều bài viết khác liên quan đến vấn đề vụ án ly hôn, áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình trên website của chúng tôi.

(Blogluat.com)

Exit mobile version